Tên gọi khác
Dao Quần trắng, Dao Quần chẹt, Dao Tiền, Dao Thanh Y, Lù Gang, Dao đỏ, Má, Động, Trại, Đại Bản, Tiểu Bản…
Ngôn ngữ
Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông-Dao.
Cư trú
Dân tộc Dao phân bố xen kẽ với nhiều dân tộc từ biên giới Việt – Trung, Việt – Lào tới một số tỉnh trung du và ven biển Bắc Bộ. Các nhóm Dao đều thờ tổ tiên là Bàn Hồ.
Đặc điểm kinh tế
Người Dao sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương và ruộng nước. Ngoài lúa họ còn trồng màu. Nông cụ sản xuất thô sơ nhưng kỹ thuật canh tác đã có nhiều tiến bộ. Một số nghề thủ công đã phát triển như dệt vải, rèn, mộc, làm giấy, ép dầu…Thức ăn của người Dao chủ yếu là măng, rau, thỉnh thoảng có thịt cá. Họ nuôi nhiều lợn, gà, nhưng chủ yếu dùng trong những ngày ma chay, cưới xin, lễ tết.
Hôn nhân gia đình
Cưới xin gồm nhiều nghi lễ: Ở rể có thời hạn và vĩnh viễn. Tuy nhiên phổ biến là lễ cưới, vợ về nhà chồng.
Tục lệ ma chay
Ma chay phản ảnh nhiều tục lệ xa xưa. Ở một vài vùng có tục hỏa táng cho người chết từ 12 tuổi trở lên. Người Dao có tín ngưỡng về thần linh, ma quỉ, có một số tục lệ thờ cúng phức tạp và tốn kém.
Văn hóa
Người Dao có nền văn hóa và lịch sử lâu đời. Mặc dù cơ sở kinh tế nói chung còn thấp, nhưng tri thức dân gian rất phong phú, đặc biệt là y học dân tộc cổ truyền. Người Dao không có văn tự riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hóa, gọi là chữ Nôm Dao. Người Dao có quan hệ họ hàng chặt chẽ và thông qua tên đệm để xác định dòng họ, vai vế của người đó trong quan hệ dòng họ.
Nhà cửa
Nhà có 3 loại khác nhau: nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất, nhà đất (nhà trệt).
Trang phục
Đàn ông Dao để tóc dài búi sau gáy, hoặc để chỏm tóc trên đỉnh đầu. Ngày nay, hầu hết đã cắt tóc ngắn. Y phục thường gồm quần và áo ngắn, áo dài. Trang phục của người phụ nữ phong phú hơn, giữ được nhiều nét trang trí hoa văn truyền thống. Phụ nữ Dao để tóc dài. Cô dâu trong ngày cưới đội mũ.